Thursday, March 16, 2006

Phương Đông du ký






(Dân trí) - Mang về hơn 16.000 tấm ảnh, những cuốn sổ ghi chép dày đặc và hơn chục cuốn sách nghiên cứu về văn hoá Trung Hoa là cái mà tác giả Xuân Bình muốn gói được về “hồn” của những vùng đất anh đã qua…
Sau 10 ngày lang thang trên đất Trung Quốc qua những địa danh nổi tiếng như Tây An, Đôn Hoàng, Cam Túc, Lan Châu... đến ngày 7/3/2006 Xuân Bình mới đặt chân trở lại Việt Nam. Với anh, đó là một chặng đường không có phút nào ngơi nghỉ...

Tượng Đường Tăng trước Đại Nhạn Tháp ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Kỳ 1: Trước Nhạn Tháp, Đường Tăng vẫn rảo bước

Tây An cố đô xưa nhất của đất nước Trung Hoa đón tôi bằng những bông tuyết cuối cùng của một mùa xuân. Đó là ân huệ hay kỳ duyên dành cho tha nhân mà một nửa đời đã mỏi mòn trôi đi vô tích sự dưới một khoẻn trời nhiệt đới nóng sục, ngột ngạt.

Tuyết phủ trắng khu nhà Đường Tăng dịch Kinh Phật.

Cũng là một thứ nước của trời ban cho hạ giới mà sao không đanh cứng như mưa đá, không xối xả như mưa rào, bông xốp chứ không li ti như mưa phùn, khô tách chứ không ẩm ướt, nhớp nháp như sương nồm. Tuyết trắng mặc khải một khái niệm vô sắc, một trạng thái yên lặng tuyệt đối, một sự khởi phát để đi vào thế giới vô hình, vô cực. Tuyết dẫn lộ trong tôi sự phấn khích của cảm hứng khi tìm đến những vùng đất khác, những cảnh giới lạ. Tuyết bồng bềnh đưa tôi đến bên chân Đại Nhạn Tháp.

Dù là Đức Thích Ca Mâu Ni, Đại thánh tăng Huyền Trang hay bất kỳ một Phật tử nào trên giới tục con đường giác ngộ chẳng bao giờ có chặng điểm dừng nghỉ.
Đại Nhạn Tháp còn gọi là Từ Ân tự tháp được xây năm Vĩnh Huy thứ ba (625), thời Đường Thái Tông. Đại Nhạn tháp hiện nay đã qua trùng tu dưới thời nhà Minh, được xây bằng gạch, hình vuông, cao bảy tầng. Còn theo sách Thiên Trúc ký đã viết: “Đạt Khấu thân quốc có Già Diệp Phật Già Lan, đục núi đá dựng tháp năm tầng, tầng cuối cùng làm theo hình con chim nhạn, nên gọi là Nhạn Tháp”.

Trong hàng ngàn linh tháp của đất nước Trung Hoa lạ lùng, về cái sự nổi tiếng, sánh cùng Đại Nhạn tháp chỉ có thể là Tung Nhạc tự tháp xây năm 523 thời Bắc Nguỵ ở tỉnh Hà Nam, là Vân Nham tự tháp xây năm 601 đời Hậu Chu ở Tô Châu, là Tứ Môn tháp xây năm 611 ở tỉnh Sơn Đông (tháp duy nhất thời Tuỳ còn hiện tồn), là Phật cung tự Thích Ca tháp xây năm Thanh Ninh thứ hai (1056) đời Liên Đạo ở tỉnh Sơn Tây, là Diệu Ứng tự bạch tháp xây năm Chí Nguyên thứ tám (1271) đời Nguyên Thế Tổ ở Bắc Kinh...

Có thể nổi trội, khác biệt về kích cỡ, kiểu dáng, chất liệu nhưng không linh tháp nào có thể sánh được với Nhạn Tháp vì đây là một dấu ấn vỹ đại của hành trình Phật giáo đi tới phương Đông, nơi Thánh tăng Huyền Trang đã dừng chân trụ trì ở chùa này hơn hai chục năm để dịch kinh Phật sau khi đi Tây Trúc. Tiếp nối những thành tựu trong việc truyền bá Phật giáo của Già Diệp, An Thế Cao, Chi Lũ Ca Tiêm, Trúc Pháp Hộ, Cưu Ma La Thập... Huyền Trang đã dịch 520 quyển, 637 bộ sách Phật nổi bật nhất là Kinh Đại thừa, Đại Bát Nhã kinh.

Kể từ đây, theo nhà nghiên cứu Nguỵ Thừa Tư: những dòng phái chính yếu phát triển tư tưởng triết học Trung Hoa lại là Phật học, nó vượt xa kinh học thời Lưỡng Hán, lý học thời Tống Minh lan toả và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống của Trung Hoa. Phật giáo với 1520 bộ, 5620 quyển đã trở thành những tác phẩm văn học vỹ đại, mang đến cho văn học Trung Hoa ý cảnh, văn thể, phương pháp dùng từ mới...

Sách Phật bản hành tán kể chuyện đời Phật tạo khuôn mẫu mới cho thể thơ tự sự trường thiên. Kinh Pháp hoa gợi mở cho sáng tác tiểu thuyết đời Tấn Đường. Sử thi Ramayana Ấn Độ truyền lối cho Tây du ký. Phật giáo thúc đẩy ngôn ngữ Hán phát triển, cùng truyền thụ, tiếp thu khoa học kỹ thuật, y dược. Những bản in khắc, chùa tháp lớn nhất là của nhà Phật. Những tác phẩm hội hoạ, phong cách Văn nhân hoạ của phái Vương Duy, Tả ý hoạ thịnh hành đời Tống Nguyên, các danh hoạ Tào Bất Hứng, Cố Khải Chi, Trương Tăng Dao... đều được trưng cất, lĩnh hội từ những cốt tinh trong đời sống Phật giáo...

Đứng lặng dưới bức tượng lớn của Đại Đường Tam Tạng ngay trước cửa Đại Nhạn Tháp để hồi nhớ chỉ từng ấy thôi mà thấy mình rơi rất nhanh vào niềm thành kính mênh mang. Đường Tam Tạng tay trái khép lại trước ngực như đang lần tràng hạt, gương mặt tự tại, tay phải cầm cây tích trượng, đỉnh gậy có hình hoa sen tượng trưng cho sự giác ngộ cũng như giáo lý nhà Phật, bước chân Tam Tạng sải dài, tạo nhịp cuốn bay của tà áo cà sa.

Những bông tuyết còn vương lại trên tượng gợi cho tôi nhớ lại nạn gặp yêu ma gieo tuyết, biến sông thành băng để bẫy Tam Tạng giam vào phủ Thuỷ Nguyên trên sông Thông Thiên còn ghi trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân. May mà có Bồ Tát bấm quẻ phát hiện thuỷ quái hại Đường Tăng nên vội đến cứu giúp chứ không Đại Thánh Tăng đã thành món trường sinh bất lão cho bọn yêu quái. Đấy chỉ là hai trong số tam mươi mốt nạn mà Đường Tam Tạng gặp phải dọc con đường dài mười vạn tám nghìn dặm đi Tây Trúc lấy kinh.

Tôi tự hỏi không biết điêu khắc gia nào đã tạc bức tượng này? Tại sao không để Đường Tăng ngồi toạ thiền mà tiếp tục sải bước? Hay phía trước mặt một bậc đại thánh tăng như ngài vẫn còn đó 18 nạn chưa qua? Đường giác ngộ còn thênh thanh hướng về Tây như đại lộ mới mở phía trước Đại Nhạn Tháp nơi tôi đã đến hôm nay. Còn nhớ Bồ Tát từng nói: Cửa Phật có chín chín mới quy chân.

Xuân Bình

Friday, March 10, 2006

Nguyên Sa và Tình Ca Ngô Thụy Miên












Ảnh nhà thơ Nguyên Sa

tên thật Trần Bích Lan, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội, mất ngày 18 tháng 4 năm 1998 tại California Hoa kỳ
tác phẩm: Thơ Nguyên Sa tập 1 Thơ Nguyên Sa Tập 2 Thơ Nguyên Sa tập 3 Vài Ngày — Chung Sự Vụ (truyện dài) Gõ Ðầu Trẻ Mây Bay Ði (truyện ngắn) Descartes Nhìn Từ Phương Ðông Một Mình Một Ngựa Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ Ðông Du ký Hai Mươi khuôn mặt Nghệ sĩ Việt Nam ở Hải Ngoại Luận lý Học Tâm Lý Học


Nguyên Sa và Tình Ca Ngô Thụy Miên

tg: Ngô Thụy Miên

Tin nhà thơ Nguyên Sa mất đến với tôi thật đột ngột! Sáng nay một người bạn gọi vào sở hỏi tôi:"Ông có biết nhà thơ Nguyên Sa vừa qua đời chưa?" Tôi bàng hoàng, thẫn thờ một chút mặc dù đã được biết tình trạng sức khoẻ của ông mấy năm gần đây. Chúng tôi trao đổi vài ba câu chuyện.

Tôi cám ơn bạn rồi thầm nói với mình:

"Thôi, cái thời tuổi trẻ mộng mơ, yêu đương nồng nàn ngày nào đã thực sự không còn nữa. Không còn nữa những lụa là mưa nắng Sàigòn, cũng không còn nữa Paris, người tình và giòng sông Seine với những vòng tay ôm, những môi hôn vội vả… Người đạo diễn đã bỏ cuộc chơi, bọn tài tử chúng tôi ở lại còn gì để bàn chuyện thu phong, còn gì để làm dáng với đời, làm điệu với người!"...

Ngoài trời những giọt mưa vẫn tiếp tục rơi đều trên khung cửa kính. Buổi chiều về nhà, bạn bè dưới Cali gọi lên báo tin. Bỏ điện thoại xuống, tôi ra vườn sau nhà. Nhìn những cánh hoa anh đào đang rụng bay theo gió, chợt thấy lạnh, và nỗi buồn ập đến khiến tôi choáng váng. Buổi tối anh Nguyễn Mạnh Trinh gọi lên nhờ tôi đóng góp một bài để đăng trong tuyển tập anh dự định in trong những ngày sắp tới. Tôi hứa sẽ viết một chút về những bản nhạc đã phổ từ thơ ông.

Tôi không rõ nhà thơ Nguyên Sa từ Pháp trở về Việt Nam từ năm nào, chỉ biết cùng với nhà thơ Cung Trầm Tưởng, ông đã đem Paris về cho bọn trẻ chúng tôi. Một Paris với hè phố Saint Michel, với sông Seine, tháp Eiffel, những cặp tình nhân, giáo đường sương mù… Cùng một lúc ông đã mang nắng Sàigòn, lụa Hà Đông và đâu đó bóng dáng Hà Nội vào thi ca Việt Nam của chúng ta một cách thân thiết nhẹ nhàng.

Nhiều người hỏi tôi có quen biết hay có họ hàng với nhà thơ? Như tôi đã nói, chúng tôi không có liên hệ gì ngoài sự cảm thông của hai con người cùng yêu nghệ thuật. Nói rõ hơn, tôi chỉ là một trong hàng triệu người yêu quí thơ ông, một người may mắn có thể gửi lời biết ơn giòng thơ tuyệt vời của ông qua những nốt nhạc giản dị, chân tình.

Cuối năm 1969, khi một số tình khúc của tôi đã được phổ biến rộng rãi trên các đài phát thanh, cũng như trong những đêm sinh hoạt văn nghệ được tổ chức tại nhiều trung tâm văn hoá, hay các giảng đường đại học. Tôi đến với thơ Nguyên Sa, không từ một chọn lựa, mà vì tôi đã nhìn thấy mình trong thơ của ông, đã nghe những rung động thầm kín nhất của tuổi trẻ mình được ông tạo lên bằng những lời thơ ngọt ngào tình tứ, tươi mát. Cũng như bao nhiêu anh em thanh niên sinh viên học sinh của thập niên 60, tôi yêu và thuộc không ít thơ của ông. Nói đến Áo Lụa Hà Đông, có lẽ chúng ta mấy ai không biết:

Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.

Cá nhân tôi khi đọc bài thơ đã chú ý ngay 4 câu:

Em chợt đến, chợt đi anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại.

Lời thơ man mác buồn, đã vỗ về, chia xẻ tâm tư tôi ngày tháng đó. Lang thang Sàigòn một ngày nắng nhẹ, giòng nhạc lan man trong đầu óc: "Rê Đô Rê, Sol Sib Sib Rê Rê, Sol Sol La, Sol Sib Rê Rê La…", tôi đã hoàn tất phần điệp khúc được viết theo cung Rê thứ để thích hợp với hồn thơ. Khi phổ hai phần đầu, và cuối, tôi đã gặp khó khăn với hai câu:

Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng



Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng

vì vần trắc của chữ "trắng" đã không thích hợp với giòng nhạc chuyển tiếp cần âm bảng. Sau hơn một tuần loay hoay tìm kiếm, cuối cùng tôi đã phải dùng một phương pháp phổ thơ cũ: nhạc lại lời thơ ở câu trên để chuyển ý nhạc trở về phần hai, cũng như đoạn cuối của bản nhạc:

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng.
Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

Để tạo ấn tượng nuối tiếc cho người nghe, khi kết thúc bản nhạc, tôi đã thêm câu:

Anh vẫn yêu màu áo ấy, em ơi

với giòng nhạc đi lên, chuyển từ Sol thứ qua Sib, La, và chấm dứt bằng Rê trưởng.

Cuối năm 1970, trong một đêm nhạc tình ca tại trường đại học Khoa Học, tôi đã giới thiệu bài hát tới các bạn trẻ của tôi. Sau đó bản nhạc đã được phổ biến thường xuyên qua các chương trình nhạc do tôi và nhạc sĩ Trường Sa thực hiện trên đài phát thanh Quân Đội, cũng như trong các đêm nhạc do bạn bè chúng tôi tổ chức tại Sàigòn. Ngoài ra trong năm 1970, tôi cũng đã viết "Tình Khúc Tháng Sáu" phổ theo ý thơ bài Tháng Sáu Trời Mưa của Nguyên Sa. Mãi đến năm 1984 tôi mới phổ bài "Tháng Sáu Trời Mưa" của ông.

Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình… Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu. Từ những mộng ước đó, bản nhạc thứ hai tôi phổ từ thơ Nguyên Sa đã thành hình. Có những bài thơ khi muốn phổ nhạc, người nhạc sĩ phải tìm điệu nhạc để chuyên chở ý thơ, hoặc phải thay đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc… Riêng "Paris Có Gì Lạ Không Em" khi đọc lên tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971. Cung Đô trưởng mở đầu nhịp nhàng:

Paris có gì lạ không em
Mai anh về, em có còn ngoan…

tôi thích nhất câu:

Là áo sương mù hay áo em

từ cung Đô trưởng đổi chuyển qua La thứ để vào phần điệp khúc:

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây…

Khi Hoàng Phúc bạn tôi hát bài này lần đầu tiên, đã nói "bài này phải để chị Thái Thanh hát mới được". Đúng như lời Phúc nói, sau này chị Thái Thanh đã thử bài này. Để thêm một chút Paris, chị đã hát:

La la la la la la
La la la la la la

khi kết thúc bản nhạc.

Sau Áo Lụa Hà Đông và Paris Có Gì Lạ Không Em, tôi đã phổ tiếp Tuổi 13. Cũng như "Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông", "Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" là 2 câu thơ được bọn trẻ chúng tôi thuộc nằm lòng ngày đó. Tôi yêu cái ý thơ hồn nhiên, lời thơ trong sáng. Đọc bài thơ thấy hồn lâng lâng, như đang nhớ nhung, hẹn hò, đang đợi chờ, mơ ước. Ý nhạc đến thật nhanh:

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi trả về bong bóng vỡ đầy tay…

Tôi đã vào đề với những nốt nhạc cao của cung Đô trưởng để diễn tả cái thắc mắc ngày mưa ngày nắng của mình. Khi chuyển qua điệp khúc tôi nhạc lại câu "Tôi phải van lơn ngoan nhé đừng ngờ…" 2 lần như một lời trấn an người tình nhỏ và kết thúc tôi nhạc lại câu "Nên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu" như một câu hỏi cho chính lòng mình. Tôi vẫn nghĩ bản nhạc với những niêm luật gò bó đã không thể nói lên hết được ý thơ của tác giả. Chỉ hy vọng bản nhạc đã không làm giảm giá trị của bài thơ.

Đầu năm 1974, khi quyết định cùng một nhóm bạn thực hiện cuốn băng Tình ca Ngô Thụy Miên, tôi đã đến gặp nhà thơ để xin phép thử 3 bản nhạc. Lần đầu tiên nói chuyện để lại ít nhiều kỷ niệm. Nhà thơ rất giản dị, dáng dấp xuề xoà. Ông rất vui khi biết tôi phổ thơ ông, và hỏi tôi sẽ nhờ ai hát ? Tôi nói nhạc sĩ Văn Phụng viết hoà âm, ca sĩ Duy Trác hát Áo Lụa Hà Đông, Thái Thanh hát 2 bài Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13. Và từ đó, Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em , Tuổi 13, đã trở thành một phần đời nhạc Ngô Thụy Miên. Năm 1980 khi tôi đặt chân đến Cali, người đầu tiên tôi liên lạc để hỏi thăm tin tức sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng chúng ta ở hải ngoại là nhà thơ Nguyên Sa. Ông có cho tôi biết về sự ưu ái của thính giả dành cho bài Áo Lụa Hà Đông, cũng như cuốn băng Tình ca Ngô Thụy Miên. Năm sau đó tôi đã rời Cali để lên miền Tây Bắc. Ông vẫn thỉnh thoảng liên lạc bằng điện thoại với tôi, và gửi lên tôi những bài thơ mới viết về sau.

Trong những tháng ngày đầu ở Cali, mặc dù bận rộn với đời sống mới, tôi vẫn tiếp tục sáng tác. Cùng với Em Còn Nhớ Mùa Xuân, Bản Tình Ca Cho Em, Dóc Mơ… Tôi đã phổ bài thơ "Paris" của Nguyên Sa:

Mai tôi đi chắc Paris sẽ buồn, Paris sẽ nhìn theo…

với tôi Paris lúc đó chính là Sàigòn, Sàigòn của những nỗi nhớ muộn màng, Sàigòn của những mất mát không nguôi. Ý nhạc không tuổi trẻ như Tuổi 13, hồn nhạc không dịu dàng như Áo Lụa Hà Đông. Tôi đã mượn thơ ông để gửi gắm tâm sự mình. Tôi biết khi tôi đi Sàigòn đã buồn, và Sàigòn đã nhìn theo.

Năm 1981, sau khi về cư ngụ tại thành phố Seattle, trong nỗi nhớ nhung con đường, những hàng quán thân quen của Sàigòn ngày nào, cùng với ám ảnh thương yêu về Áo Lụa Hà Đông, về Paris của một thời, tôi đã viết bài Nắng Paris Nắng Sàigòn:

Tôi đi giữa trời Paris mà nhớ thương Sàigòn
Nắng Sàigòn hôm nao dìu bước chân em
Qua phố phường vào quán chợ thân quen…

Tôi nghĩ đây là một kết hợp đẹp của một phần đời nhạc Ngô Thụy Miên và thơ Nguyên Sa.

Năm 1986, nhà thơ gọi lên tôi và nói sẽ thực hiện một cuốn cassette gồm một số bản nhạc phổ thơ mới của ông. Tôi gửi xuống ông "Tháng Giêng Và Anh", đã được Hải Ly hát, và sau đó là Vũ Khanh, Ý Lan, Khánh Hà… Ông rất thích bài hát này. Tiếc là bản nhạc đã không được phổ biến rộng rãi như ý ông muốn.

Đầu năm 1997, tôi về Cali ra mắt cuốn CD Riêng Một Góc Trời, trong đó có bài "Cần Thiết" phổ từ thơ ông do Thanh Hà hát. Gần đến phút cuối chương trình, tôi được biết có ông đến tham dự. Rất tiếc tôi đã không thể đến gặp ông để chào hỏi, cũng như ngỏ một lời cảm ơn.

Năm ngoái khi anh chị Duy Trác qua Seattle thăm bạn bè, chúng tôi đã có dịp gặp lại nhau. Anh em hàn huyên tâm sự, và anh tặng tôi một cuốn cassette có chương trình phát thanh giới thiệu chủû đề Thơ Nhạc Nguyên Sa/Ngô Thụy Miên do anh thực hiện tại Houston Texas. Trong chương trình này anh Duy Trác có nhắc lại:

Thi sĩ Nguyên Sa đã có lần nói rằng bài thơ Áo Lụa Hà Đông của ông có một số mệnh rất đặc biệt. Khi bài thơ được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành ca khúc, và ca sĩ Duy Trác trình bày, thì từ đó cái tên Áo Lụa Hà Đông đã gắn chặt tên tuổi của 3 người, thi sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ. Nó đã trở thành một định mệnh. Mặc dù đây không phải là bài thơ hay nhất của Nguyên Sa, cũng như không phải là ca khúc tuyệt tác nhất của Ngô Thụy Miên, cũng như không phải là bài hát mà ca sĩ Duy Trác trình bày thành công nhất.

Một lần nào đó tôi đã nói "trong nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Nguyên Sa có một chỗ đứng rất đặc biệt.." Vâng, trong nhạc tôi ý thơ ông bàng bạc khắp nơi, đâu đó thấp thoáng một chút nắng Sàigòn, một chút lụa Hà Đông, đâu đó bâng khuâng mật chút trời Paris và người yêu rất nhỏ… Định mệnh đã cho tôi được đọc thơ Nguyên Sa, được nghe tiếng hát Duy Trác, được thưởng thức hoà âm của Văn Phụng, để ngày hôm nay, và mãi mãi sau này, dù các anh còn ở đây, hay đã đi rồi, tôi vẫn xin được gửi lời cám ơn chân thành nhất của một người viết nhạc tình ca đến các anh. Xin lần cuối gửi lời cầu chúc nhà thơ một chuyến đi xa về nơi an lành, vĩnh cữu.

Ngô Thụy Miên

Tuesday, March 07, 2006

Quán thời gian








Nhạc: Phú Quang
Phổ thơ Trương Nam Hương



Mời em vào quán Thời gian
Chạm ly ký ức, uống làn hương xưa
Mời em vào quán Không mùa
Ta chia nhau ngọn gió lùa rét căm.
Mời em vào quán Không năm
Để nghe nỗi nhớ ướt đầm kẽ tay
Mời em vào quán Không ngày
Để nghe lòng bỗng tràn đầy heo may
Môi mặn đắng niềm yêu thương
Thời gian quên bỏ chút đường đó em.