Friday, February 04, 2005

Hà Nội -Góc nhìn văn hóa

Khi trong ta nảy sinh những mối hoài nghi, khi thấy cuộc sống không còn ý nghĩa, ta sẽ cần đến sách và những loại hình văn hoá đủ mạnh để nâng mình lên cao, mở rộng chân trời, mang lại ý nghĩa cho cuộc sống...(C.Danuksky )

Nhỏ nhoi cái húng, cái hành
User name: cuoihaymeu

Phải chăng sự đô thị hóa và những giá trị văn hóa truyền thống không thể dung hòa lẫn nhau? Đâu là câu trả lời cho câu hỏi này? Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây sẽ mãi mãi chỉ còn xuất hiện trong những câu ca dao, liệu húng Láng cũng sẽ phải chịu chung số phận?

Đất này vốn trồng rau, giờ nhà cửa cao quá nên nó thành chỗ chứa nước thải, đành xin phường làm cái sân chơi cho trẻ. Dự án chợ cấp II Láng Hạ, đường C2 Thái Hà và chợ mới cấp III Láng Thượng bắt đầu thực thi, húng Láng, hành Láng cũng theo luôn vào cổ tích – Thành phố quyết định rồi, chưa thấy cái gì dính đến rau được nhắc tới cả. Đó là một vài câu nói chúng tôi ghi lại từ Láng, vùng đất của thứ rau gia vị húng Láng và hành Láng đệ nhất Kinh kỳ thuở trước.

Qua Láng bây giờ, cả ba HTX nông nghiệp chỉ còn khoảng 5ha đất (trước là hơn 30ha) gọi là để làm nông nghiệp, phần lớn là ao hồ dùng để thả muống, liệu ai còn nhớ về sản vật đã từng được tiến vua ấy không?

Người làng Láng vốn tự hào thế này:
Ở đâu thơm húng thơm hành
Có về làng Láng cho anh theo cùng

Theo ai vai gánh vai gồng
Rau xanh níu gót bóng lồng sông Tô…

Húng Láng, hành Láng, cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì,… vốn là những sản vật của riêng kinh thành Thăng Long. Vậy mà lúc nãy, đi qua cái hẻo đất teo teo trồng rau cạnh đường Láng, ông bạn phàn nàn: Đất ngay trung tâm, sao không xây lên mà kinh doanh nốt?. Chợt chạnh lòng. Người ta hầu như không biết nơi ấy là một trong những chỗ hiếm hoi còn sót lại của thứ sản vật càng ngày càng xa xăm: húng Láng và hành Láng.

Tìm cái tinh của đất:
Láng là tên Nôm của xã Yên Lãng, làng cổ ven thành Thăng Long, một trong 61 phường của Thăng Long thời Trần. Theo Việt điện u linh, thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072), ở hương Yên Lãng có người con gái tên là Tăng Thị Loan lấy đạo sỹ Từ Vinh, sinh ra Từ Đạo Hạnh. Thôn Thượng nay còn di tích chùa Nền (vốn là nền nhà ông bà Vinh ngày trước). Như vậy, ít nhất làng Láng cũng có người ở cách đây hàng chục thế kỷ.

Xã Yên Lãng có ba thôn là Láng Thượng, Láng Trung và Láng Hạ, giờ là ba phường cùng tên chạy theo chiều dài hơn 3 km trên dải đất bờ Bắc sông Tô Lịch. Đây là vùng đất duy nhất trồng được thứ rau húng (tên gốc là rau thơm Láng) và hành hoa thơm ngon không đâu bằng.

Bà Nguyễn Thị Tâm, 65 tuổi, tóc vấn tròn, miệng tươi trầu tự hào nói với VASC Orient: “Thơm Láng bao giờ lá, cọng cũng gầy hơn những loại thơm vùng khác, cọng tía sẫm, lá ít răng cưa và mỏng, thả ra tay còn nguyên mùi thơm dịu, rất đậm đà, không gắt quá mà cũng không vương mùi bạc hà. Chẳng riêng những người làm rau, những ai sành ăn đi đâu cũng nhận ra thơm Láng…".

Dù có mua cùng rau giống ở chợ Bưởi, chợ Mơ… Nhưng chỉ khi trồng ở Láng, rau thơm mới có những đặc tính quý hiếm trên. Làng Đăm (Tây Tựu) và một số nơi ở Thanh Trì đều trồng nhiều húng nhưng không đâu được thơm ngon như húng Láng. Không biết bao người đã về làng, mang giống đi với tâm nguyện nhân rộng, giữ gìn giống rau quý, nhưng cây đều biến giống, giảm chất lượng dù có được chăm sóc cẩn thận bao nhiêu. Ngay như Yên Hoà, cách Láng có vài chục bước chân qua sông Tô Lịch mà cũng chẳng trộm được thứ húng này. Chưa kịp qua sông, húng đã mất vị rồi.

Tất nhiên, có được thứ rau ngon bởi một phần nhờ công người chăm bón. Các rẻo đất trồng rau thấm hết cái vất vả, công phu của người làng Láng. Vì thu nhập? Cũng chỉ một phần. Bởi nguồn thu 200.000-300.000 đồng từ cây rau thấp hơn nhiều so với nghề tay trái của những dân cư khu vực đô thị hoá tự lúc nào này. Nhưng họ vẫn yêu cây rau, vẫn trồng rau như muốn giữ gìn một cái gì xưa cũ. Bởi từ sâu trong tâm khảm họ, cây húng đã thành hồn vía của quê hương.

Nói đến húng Láng mà không nói đến hành là một thiếu sót lớn. Trăm thứ canh không có hành không ngon, ai đã từng ăn phở mà không có hành mới thấy nó vô vị biết chừng nào. Thứ hành Láng nhỏ cọng, nhỏ củ, ngắn rễ, có mùi thơm đăc trưng này đã góp phần tạo nên hồn của vị phở Hà Nội. Chả trách các hàng phở nổi tiếng ở hàng Bông, Khâm Thiên, Bà Kiệu xưa kia đều lặn lội về tận Láng lấy hành.

Hành và húng đều không ưa trồng chung với bất cứ giống rau nào khác, cứ phải một mình một luống. Chẳng ai dám bỏ quên chúng đến 3-4 ngày. Cỏ dại mà tốt lên, chúng đã giận dỗi mà bớt đậm đà rồi. Húng Láng không trồng bằng hạt như các nơi khác. Vụ thu đông thì giâm bằng ngọn bánh tẻ, hè thu thì giữ lại rễ từ vụ trước, để ẩm cho mọc mầm trắng rồi đem rải xuống rãnh, gơ đất lên, ngọn sẽ tự bung ra.

Lạ cái giống này chỉ ưa ăn bã khô dầu, rơm mục, trấu, bùn ao, phân chuồng và đặc biệt là nước giải pha loãng, nhưng phải bón trước khi hái một thời gian đủ để không mất vệ sinh. Rau ngon cũng vì không có những phụ gia công nghiệp thời kinh tế thị trường. Và người làng Láng cũng không vì năng suất mà bón bừa cho rau quý.Húng mà “ăn” thuốc, phân hoá học sẽ bạch tạng mà chết hay xanh um lên, nhạt thếch… coi như hỏng. Ngày nào cũng phải tưới nhẹ một lượt trước khi mặt trời mọc và một lượt trước khi mặt trời lặn. Nhổ cỏ, làm đất, cấu ngọn có cỡ tuỳ theo mùa … Rồi lại cấu dài, cấu ngắn… Ai bảo đó không phải là thứ công nghệ trồng rau - thứ công nghệ được tạo ra bởi những con người còn mang nguyên dáng dấp nông thôn giữa lòng Hà Nội?

Ngoài cái tâm của người trồng húng, cái chất đất Láng, căn nguyên của sự độc đáo trong húng Láng còn được lý giải bằng cơ sở khoa học. Năm 1978, Bộ môn Rau quả của Đại học Nông nghiệp I đã có một đề tài nghiên cứu về cây húng Láng. Kết quả chỉ ra rằng yếu tố thổ nhưỡng và vùng tiểu khí hậu khác biệt là nguyên nhân tạo cho cây húng ở đây có địa vị độc tôn.

Cụ Lộc (70 tuổi), cụ Phát (70 tuổi), cụ Cẩn (85 tuổi) đều đồng tình rằng, ông bà chúng họ ngày trước cũng đã dặn lại, đất Làng chỉ để trồng cây hành, cây húng. Bà Lược, Chủ nhiệm Hợp tác xã Láng Trung nói: "Đó là cái tinh của đất, vốn quý cha ông để lại cho Làng, vậy mà bây giờ…". Bà bỏ lửng câu nói, thở dài.

Đâu rồi “Rau xanh níu gót bóng lồng sông Tô”?
Vừa đóng cửa HTX để về thì bị chúng tôi đến quấy, ông Phó Chủ nhiệm HTX Láng Hạ kêu ồi ồi: “Hỏi làm gì? Còn đất đâu mà hỏi.”. Nói vậy nhưng ông vui ra mặt, sốt sắng mở cửa mời khách vào. Chưa kịp ngồi, ông đã hào hứng: “Mấy cái khoanh đất trồng rau mà các cô trông thấy cạnh đường Láng rồi sẽ thành chợ cấp II Láng Hạ. Dự án đã đi vào thực hiện rồi đấy. HTX chúng tôi mất đi hơn 7.000m2 trồng rau.

Chợ mọc lên, khu A một bên, khu B một bên, đúng vừa. Cái tên cũng sẽ được thay cho hợp thời - Chẳng lẽ chợ không còn cách nào tránh rau?” – Thành phố đã quyết định rồi, chưa thấy cái gì liên quan đến rau được nhắc tới cả, chúng tôi cũng đã đề cập mãi. Tốt nghiệp ĐH Nông nghiệp I, về HTX từ năm 21 tuổi, nay đã 44 năm, ông Vượng đành ngậm ngùi nhìn cây rau mình gắn bó cả đời mai một.Không riêng phường Láng Hạ, hai phường còn lại cũng nằm trong tình cảnh tương tự. Khi thành phố quy hoạch, đất trồng rau thành đất làm nhà, làm đường gần hết. Chỗ đất còn lại cũng đang bị tấn công từng ngày. Ông Châu, chủ nhiệm HTX Láng Thượng, quần xắn tận đầu gối đang chỉ đạo mấy tài xế xe ben đổ đất trước cửa HTX hổn hển nói: “Đất này vốn trồng rau, giờ nhà cửa cao quá nên nó thành chỗ chứa nước thải, đành phải xin phường làm cái sân chơi cho trẻ".Đất trồng rau bây giờ chỉ còn là những miếng nhỏ, bị xé lẻ, bằm nát bởi nhà cao tầng ngang dọc. Cả ba HTX nông nghiệp còn hơn 5ha đất gọi là để làm nông nghiệp. Năm 1973, HTX Láng Hạ còn hơn 2ha, đến nay chỉ còn chưa đầy 1ha. Láng Trung trước có 27ha nay còn hơn…1ha (phần lớn là ao hồ dùng để thả muống).Đến Láng bây giờ khó mà bói ra kẻ trồng rau. Họ thích làm nghề khác hơn. Mà vẫn thích làm rau cũng khó vì cả ba HTX đều ngừng nhận xã viên từ năm 1991. Bây giờ, bên những luống rau chỉ còn lại mấy ông mấy bà ngoại tứ, ngũ tuần. Phải chăng chính yếu tố này cũng thúc giục sản vật nổi tiếng một thời của kẻ Láng nhanh trôi vào quá khứ hơn?Chỉ cần 1-2 trận mưa thôi, hầu hết các vườn đều úng ngập. Khi thiên hạ đua nhau lên tầng, thứ rau thanh khiết kia phải tập bơi. Dự án chợ cấp II Láng Hạ, đường mới C2 Thái Hà và chợ mới cấp III Láng Thượng bát đầu thực thi, húng Láng, hành Láng cũng theo luôn vào cổ tích. Liệu ai còn nhớ về cái sản vật đã từng được tiến vua ấy không?

Nỗi niềm người kẻ Láng:
Cả buổi sáng, bà Đức mới bó được 40 cặp húng, tính ra chưa được 5.000 đồng cho rổ rau đầy ắp. Bà cụ ngậm ngùi: “Húng nào mà chả giá ấy, chỉ những người sành ăn mới chọn húng Láng, còn thì nháo nhào cả. Chúng tôi còn khốn đốn vì cái đận Truyền hình về quay ruộng rau rồi đưa lên phê phán đây không phải là rau sạch. Hôm sau, chẳng ai đến lấy hàng…"

Nhưng những người trồng rau kẻ Láng lại thua người mua một cách thảm hại bởi có trồng cầu kỳ như thế chứ có hơn thế nữa cũng chỉ đổ buôn được 50 đồng/mớ. Nhưng lạ cái là đi hàng rau thơm nào, người bán cũng khăng khăng đấy là húng Láng. Chẳng lẽ người Láng trồng rau du kích trong nhà?

Nhưng vượt lên thói thường, người kẻ Láng ai cũng mong có được một diện tích đất dù nhỏ để làm nơi cho rau Láng, đặc biệt là húng, hành tồn tại với đời. Cái gì đã mất thì không bao giờ lấy lại được, chi bằng chúng ta hãy giữ nó khi còn chưa muộn. Chẳng có bảo tàng nào giữ được giống rau ấy bằng một bảo tàng sống. Chẳng lẽ chúng ta không xót xa khi nhìn húng Láng, hành Láng sắp làm bạn đồng hành cùng cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây trong quá vãng hay sao?
2002.


----------------------
Qua thời gian
Username : Quang

Lịch nghĩa là trải qua, là rõ ràng. Sử là ghi chép. Nhưng Lịch sử không chỉ đơn thuần là thu thập thông tin về quá khứ, mà còn là những tư tưởng mong muốn phát hiện trên con đường của những sự kiện, hiểu được nó. Đấy là cái mà hậu thế nhận được trong lĩnh vực hiểu biết đời sống con người trước đó đã trải qua. Văn hoá là danh từ cửa miệng, ăn sâu vào tâm trí con người, bất kể cho dù đó là một bác nông dân, một anh thợ nề hay một học giả trí thức. Đơn giản, văn hoá là môi trường sống của con người về mặt tinh thần và vật chất trải qua thời gian. Bỏ qua khái niệm và những sự lý giải cặn kẽ, tôi thích nhìn vào những gì còn lại, những gì đã mất qua thời gian. Nói cho cùng, năm tháng là thước đo giá trị của Lịch sử và Văn hoá.

Hôm nay ngó cái TV xem chương trình Phố Hà Nội. Người Việt vốn có câu "sâu rễ, bền gốc". Thoắt giật mình. những khu phố mới, những toà chung cư cao tầng đang thi nhau đua chen mà chưa kịp biết tường tận thế nào có nơi mang danh: Khu phố cổ

Khu Phố cổ sót lại trên Hà thành hiện thấy chỉ có từ thế kỷ 19, nhưng theo sử sách đích thị đây là nhân lõi của kinh đô Thăng Long từ khi mới thành lập, tức là có đến ngàn năm tuổi. Có thể coi không gian khu phố cổ là một hình tam giác cân có đỉnh là phố Hàng Than, cạnh phía đông là đê sông Hồng, cạnh phí tây là các phố Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da, đáy là trục Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ. Phố chi chít dọc ngang như bàn cờ, hầu hết mang tên mặt hàng sản xuất hoặc kinh doanh. Nhà thì cùng một loại kiến trúc, san sát hai bên đường theo kiểu nhà ống. Có dịp hãy quan sát kĩ lưỡng những căn nhà dài như cái ống, hẹp và sâu, có khi thông liền ra một mặt phố khác. Gian ngoài là gian dùng để buôn bán hoặc làm hàng Đi vào trong là một khoảng sân lộ thiên để hứng nắng, gió. Đi tiếp là vào gian nhà dùng để ăn, ở. Nhà nào cũng bình dị, nhỏ bé, vừa làm nơi sản xuất, vừa làm chỗ ra vào sinh hoạt. Hầu hết đều rất thấp, chẳng mấy khi có không gian để trổ cửa sổ. Nếu có cũng rất nhỏ. Đứng ở giữa một phố cổ nhộn nhịp sầm uất bán mua, ngắm nhìn những căn nhà liền mái, liền tường, gồng mình chống đối lại với dấu ấn thời gian để nâng đỡ, nương tựa vào nhau, dễ thấy khu phố cổ như một cơ thể gắn bó khăng khít. Thi thoảng bắt gặp những mái đình chùa cong cong, một chút không gian cây xanh mềm mại còn sót lại. Giữa cái không gian đô thị vật chất kia, hương vị cổ muôn năm cũ nay thấp thoáng, ẩn chìm như muốn giữ cho muôn đời tâm linh của người Hà nội xưa.

Nối với Hồ gươm là Hàng Đào ngược xuống. Được biết dân Hải Hưng (Đan Loan) xưa đến đây nhuộm vải rồi dần dà thành phố bán tơ lụa, gấm, vóc. Bây giờ bộ mặt khu phố thay đổi nhiều, những cửa hiệu đồng hồ sang trọng, bóng nhoáng. Dân nơi đây nam thanh nữ tú xa hoa vào loại bậc nhất. Chẳng trách từ xưa phố có tiếng là hào hoa nhất đô thành.

Đi tiếp lên trên là Hàng Đường. Nay, so với Hàng Đào, phố này còn giữ được phần nhiều bóng dáng xa xưa. Vẫn những cửa hàng buôn bán tạp hoá đủ loại, những chị bán hàng xồ xuề phe phẩy cái quạt nan. Giữa phố có mái chùa Cầu Đông còn giữ được bức tượng "Bụt cười". Góc phố có hàng bánh dày, bánh giò, chả cốm, giò lụa, nem chua đủ loại. Người già con trẻ vui vẻ kề cà cầm tay miếng bánh, miếng nem ngồi ăn bên vỉa hè như một thú vui dân dã cố hữu. Quán này có loại bánh dày Tàu rất lạ. Bánh to bằng lòng bàn tay, lớp bột mịn màng trắng dẻo bao lấy nhân vừng đen. Cắn một miếng, vừa mới nhận ra vẻ tinh khiết của thứ bột nếp nguyên chất, khô nhưng mịn màng không dai thì vị ngọt bùi của cùi dừa xen lẫn mùi thơm đặc trưng của vừng đen kịp trào ra đúng lúc. Ai thích ăn đồ khô ắt hẳn không nên bỏ qua loại bánh này.Có lẽ, trong những phố cổ Hà thành, tôi thích thú nhất với phố Hàng Đường. Mỗi giờ, mỗi ngày đi qua đây tôi đều cảm nhận được những gì của xa xưa không giống trước. Hôm nay phát hiện ra hàng bún bánh đa cua vỉa hè, cũ mà mới. Ngày mai Tết đến, chen chân trước chợ Cầu Đông ngắm nhìn những đào, những thược dược, những Violet, mới mà không cũ. Hôm nào tháng giêng ngày rộng dài, loăng quăng đem tiền mừng tuổi ra cuối phố mua vài gói ô mai, vài cái nơ kẹp tóc nhét vào cặp làm quà, đến lớp mừng tuổi cho lũ bạn. Đồ quen thuộc nhưng vun đắp thêm một tình cảm mới mẻ vững bền...Đó là sự hoà đồng tự nhiên, là một sự giao hoà từ qua khứ đến hiện tại trong mỗi góc tâm linh nhỏ bé của con người.

Lại phải kể đến phố Hàng Mã...Những ngày còn thơ dại, tôi hay theo mẹ lên nhà bà chơi. Bà tôi làm đèn giấy trung thu cổ truyền có tiếng vào bậc nhất Hà thành. Lúc đó Hàng Mã chỉ bày bán đồ chơi làm từ giấy, không có đồ dùng pin và bằng nhựa hiện đại như bây giờ. Dịp trung thu, đi dọc phố chỉ thấy hai màu xanh và đỏ. Tôi cũng hay bám áo bà đi xích lô từ Hàng Chuối vòng ra Hàng Mã giao hàng, mỗi bận bán cả trăm cái đèn lồng. Để chuẩn bị cho một đợt giao hàng vào trung thu như thế, bà tôi mất nửa năm để quét phẩm, in hoa, gấp, chun và hồ từng chiếc đèn. Không biết bây giờ thế nàonhưng những năm 90, người buôn bán trên Hàng Mã, tay lúc nào cũng đỏ lự, tim tím vì dính phải phẩm màu chưa khô. Bán những thứ đồ này, ngoài trung thu ra thì quanh năm trầm lặng. Người ta buôn bán hương, giấy, tiền vàng âm phủ, có lẽ vì thế nên ít mau mồm mau miệng. Phố Hàng Mã ngày nay vắng bóng những đèn lồng, những ông tiến sĩ bằng giấy mộc. Thay vào đó là vô vàn màu sắc rực rỡ của đủ loại đồ chơi vui mắt, vui tai. Đời sống, nhà cửa đầy đủ, văn hoá nhiều mặt đến chỗ suy đồi, nhưng thú vui sắm đồ trung thu cho trẻ nhỏ, cho cả lũ thanh niên vẫn ngày một góp phần khiến một nét văn hoá tươi tắn và nhộn nhịp hẳn lên.

Khi con sông Tô còn chen chân chảy trong khu phố cổ, người ta nói, có thể mua cá tươi ở phố Chả Cá. Lại có người kể xưa kia phố này mang tên Hàng Sơn, chỉ bán sơn. Mãi đến cuối thế kỉ 19, có gia đình họ Đoàn ở số nhà 14 nghĩ ra cách nướng cá làm chả, ăn kèm với bún và một số gia vị. Nhiều người thích thú đâm thành tên phố. Trước cửa hiệu, chủ nhà bày tượng Lã Vọng, một tay cầm cần câu, một tay xách xâu cá. Cái tên chả cá Lã Vọng cũng từ đấy ra. Cho đến nay khách nước ngoài vẫn tìm đến phố để yêu cầu thưởng thức món chả đặc sắc này. Khách tới, ngồi vào bàn ăn, theo đúng cung cách thì nhà hàng đem đến một cái lò đất con hừng hực than hồng, trên đặt chiếc chảo nhỏ mỡ nổ lách tách vui tai. Xung quanh là vài ba đĩa rau ăn kèm. Nhất thiết không thể thiếu thì là và hành hoa. Một bát nước chấm pha chanh, ớt tỏi hoặc mắm tôm tuỳ sở thích, một cuộn bánh đa gỏi, một đĩa bún đơm tơi bông lên. Tất nhiên chú ý nhất là đĩa cá chủ đạo. Ngon nhất là làm bằng thịt cá lăng, nếu không may thì dùng cá quả, cá chuối hay cá trắm đen thay thế. Cá được lạng ra thành từng miếng không dày cũng không mỏng, bản to vừa, ướp tiêu hành ớt, sả gia vị vừa ngon, miếng cá bóng màu vàng ngậy của nước nghệ, xếp thành đĩa. Mùa đông, bên ngoài gió rét, mưa phùn lạnh cóng, bên trong chụm đầu quây quanh lò than hồng, đợi chảo mỡ nóng, thả ít hành hoa vào lèo xèo rồi nhúng từng miếng cá cho săn đều hai mặt, gắp ra ngay đặt vào miếng bánh đa cuộn thành gỏi có kèm bún và các loại gia giảm. Cầm cái gỏi cuốn chấm đẫm nước mắm tôm hoặc mắm tỏi, nhỏ thêm vài giọt cà cuống thì thật tuyệt. Ngó xung quanh, không gian mờ mờ, khói thơm lan toả, thật quyến rũ đậm đà.!

Buổi chiều tối mùa đông, bước ra từ hàng Chả Cá, đi một đoạn, gặp ngay mùi thuốc Bắc đang được sao tẩm trên phố Lãn Ông. Đi một đoạn lại thoáng nghe tiếng gò bạc, gò đồng ở phía sau, phố Lò rèn, nay là Hàng Dừa. Loăng quăng một vòng, thấm mệt, quay lại đầu Hàng Gai ngắm những cửa hiệu tranh thêu,lụa Hà Đông trang trọng. Xưa kia nơi đây nổi tiếng bởi con người lịch thiệp và tao nhã vì lòng yêu mến và trân trọng nghệ thuật. Ngay đầu phố, men theo lối vào tối và hẹp là hàng Cafe Phố Cổ, đã bao lâu vẫn giữ được một khoản không gian nguyên sắc nguyên tình. Khách ngồi giữa sân giời, gọi ly càphê trứng, (bác Sốt nhỉ hihihìhì), ngắm buồng chuối cảnh trước mặt đang độ trổ hoa đỏ rực, tựa lưng vào bức tường ẩm mùi rêu phong, nhâm nhi cái vị ngọt mềm và tan nhanh của kem trứng, đứng dậy bước chân vào trong nhà sờ tận tay mân mê những món đồ cũ đầy bí hiểm. Chủ nhà hẳn là người lịch thiệp và nhã nhặn khi để khách mặc sức tỏ ý trân trọng kỉ vật, như nếp xưa, như người Hàng Gai của những căn nhà theo lối sắp xếp cũ, đàm đạo thơ văn giữa sân cảnh và giếng trời...Bước chân ra, gặp ngay cái ồn ào của đô thị khi thành phố lên đèn...Bấy nhiêu chưa đủ, nhưng đọng lại trong tâm trí những dư âm của một Hà thành cổ xưa đang bền bỉ, bền bỉ thở cùng nhịp thở thời đại.


2002.

No comments: